BÊN TRONG MÁY TÍNH
1 Bộ nguồn: tất cả nguồn điện đi vào máy tính đều qua hộp kim loại bảo vệ này. Bên trong hộp, một máy biến thế sẽ chuyển đổi cường độ dòng điện từ nguồn điện dân dụng sang hiệu điện áp và cường độ điệp áp thích hợp để sử dụng cho các bộ phận khác nhau của máy tính. Những phần khác của máy tính, từ bảng mạch mẹ đến các ổ đĩa, nhận nguồn điện từ nguồn cấp điện chính qua những dây dẫn màu có gắn mối nối nhựa.
2 Ổ đĩa CD-ROM/DVD-ROM: Ổ CD và DVD đọc dữ liệu trên mặt phẳng ánh kim của đĩa theo đường xoắn ốc. Những máy tính mới hiện nay có ổ DVD với đặc tính đơn giản mà vẫn đọc được CD. Dung lượng lưu trữ dữ liệu ở CD là khoảng 650 MB (megabytes). DVD có thể lưu trữ khoảng 4.7 GB (gigabytes) dữ liệu trên mỗi mặt đĩa. DVD có thêm dung lượng lưu trữ do sử dụng chùm tia laze hẹp hơn, ghi được trên hai lớp mặt đĩa.
Ổ đĩa ghi CD và DVD: là những ổ đĩa CD và DVD chỉ đọc nhưng có thêm chức năng ghi trên những đĩa CD và DVD trắng. Những ổ đĩa khác nhau ghi dữ liệu theo các cách khác nhau, cho nên 1 đĩa DVD được ghi trên ổ này sẽ phát lại khác với bản ghi ban đầu trên 1 ổ đĩa khác. Tất cả phần mềm hiện nay được phân phối trên Internet hoặc ghi qua đĩa CD/DVD. Tóm lại, với những chiếc đĩa ghi CD/DVD tiện lợi ra đời sẽ kéo theo sự mất dần ổ đĩa mềm trong máy tính (xem chương 12).
3 Ổ đĩa cứng: là kho chứa chính các chương trình và dữ liệu mà bạn làm việc trên đó- đó là những đĩa cứng và mỏng, sử dụng phương pháp ghi từ tính. Nó gồm những tập tin hệ thống cho phép máy tính của bạn hoạt động (xem chương 3). Nó là bộ phận làm việc nhiều nhất trong máy tính nhưng lại chạy rất êm nên khó nhận ra các thành phần trong đó đang hoạt động (xem chương 10).
4 Ổ đĩa mềm: Là nơi bạn đưa 1 đĩa mềm 3-5 inch vào (xem chương 11). Hầu hết các đĩa mềm lưu trữ được 1.44 MB dữ liệu, tương đương với một cuốn tiểu thuyết ngắn – gồm 500 trang văn bản không định dạng, có cả những đoạn viết cách dòng. Nó cũng được sử dụng để sao lưu các tệp tin đề phòng trường hợp có sự cố xảy ra với tệp tin gốc trong ổ đĩa cứng, nhưng với kích cỡ của ỗ đĩa cứng và dung lượng lưu trữ lớn hơn nhiều của các ổ đĩa CD, DVD khiến cho các đĩa mềm ngày càng ít được sử dụng (xem chương 10).
5 Bộ điều khiển đĩa: Bảng mạch chính của hầu hết các máy tính mới đều có 2 kiểu kết nối với ổ đĩa cho việc truyền dữ liệu và câu lệnh. Bộ điều khiển IDE cũ được sử dụng cho ổ đĩa mềm và ổ đĩa quang học. Nó điều khiển việc truyền tín hiệu đến ổ đĩa chậm hơn qua đường truyền rộng, phẳng gồm 40-80 dây dẫn. Bộ liên kết Serial-ATA (SATA) hiện nay được dành riêng cho ổ đĩa cứng. Với việc tận dụng tốc độ nhanh hơn, SATA truyền được thông tin chỉ qua một cáp 4 dây mỏng.
6 Khe cắm mở rộng: Giống như Bộ điều khiển đĩa, các khe cắm mở rộng được dùng để tích hợp các bảng mạch mới vào bảng mạch chính. Nó là sự kết hợp giữa công nghệ mới nhất và các khe di sản sao cho tương thích với các bảng mở rộng còn lạc hậu trong kỹ thuật này.
7 Cạc video: chuyển đổi dữ liệu hình ảnh sang nhiều dòng điện khác nhau để hiển thị một hình ảnh trên màn hình (xem chương 17).
8 Cạc âm thanh: chứa hệ mạch điện làm nhiệm vụ thu và phát lại âm thanh đa phương tiện. Nó có thể là một cạc mở rộng hoặc được tích hợp vào một số chip trên bảng mạch chủ của một số máy tính và kèm theo dây dẫn nối với các thiết bị ngoài như loa khuếch đại âm thanh, tai nghe, micro, máy nghe đĩa CD (xem chương 22).
9 RAM: Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên là một tập hợp các vi chip được xếp thẳng hàng trên những bảng mạch nhỏ để lắp khớp với các khe bằng hàng trăm mối nối. RAM là nơi lưu trữ dữ liệu và chương trình cho máy tính sử dụng. Khi tắt máy tính, dữ liệu trong RAM sẽ mất (xem chương 4).
10 Đồng hồ thời gian thực: là một chất bán dẫn dao động mà bên trong có bộ phận thiết đặt nhịp độ và đồng bộ hóa hoạt động của các bộ phận khác.
11 CMOS: Đây là một dạng đặc biệt của chip bộ nhớ, sử dụng một loại pin nhỏ để lưu giữ thông tin về cấu hình phần cứng của máy tính ngay cả khi máy tính bị tắt (xem chương 2).
12 BIOS: Nếu bộ vi xử lý là bộ não của máy tính, thì đây là tim của máy tính. Nó là một hoặc hai chip xác định tính cá nhân hoặc tính cá thể của máy tính bạn dùng. BIOS (Hệ thống Nhập/Xuất cơ bản) biết thông tin chi tiết về cách thức máy tính ráp lại với nhau như thế nào và làm nhiệm vụ trung chuyển giữa phần mềm điều hành đang chạy trên máy tính của bạn và các phần cứng khác của máy (xem chương 3).
13 Pin CMOS: Rất hiếm khi phải thay thế, nhưng nếu bạn phải thay nó, đừng quên tạo một tệp tin sao lưu các thông tin chứa trong chip CMOS (xem chương 2).
14 Bộ vi xử lý: Thường được gọi là bộ não của máy tính, bộ vi xử lý hay đơn vị xử lý trung tâm (CPU) là một tập hợp chặt chẽ các bóng bán dẫn được sắp xếp sao cho chúng có thể xử lý dữ liệu. Bộ xử lý điều khiển hầu hết các hoạt động của máy tính và thiết kế những câu lệnh cho các phần mềm đi vào hoạt động chính xác (xem chương 5).
15 Bộ tản nhiệt: Bởi vì Bộ vi xử lý sản sinh ra rất nhiều nhiệt nên bộ tản nhiệt được dùng để tán sức nóng giúp các thành phần bên trong chip không bị nóng chảy.
16 Cánh quạt: là một cánh quạt được tích hợp điện đưa không khí mát vào làm giảm nhiệt ở các bộ phận sinh nhiệt nhiều trong các-te. Do đó, đừng bít kín khe hở ở chỗ cánh quạt.
17 Cổng USB: Cổng buýt nối tiếp đa năng là một giải pháp cho phép phần mềm kết nối với các thiết bị ngoại vi mà không làm gián đoạn hoạt động của máy tính mà vẫn sử dụng được nguồn tài nguyên hệ thống khác. Cổng USB có thể dùng nối với bàn phím, các thiết bị nhập (chuột, bóng xoay…), ổ đĩa bộ nhớ flash, máy in và các thiết bị khác mà không gặp phải sự xung đột nguồn tài nguyên (xem chương 16).
18 Cổng chuột máy tính: còn được gọi là cổng PS2, đây là tính năng tiêu chuẩn nhưng đang giảm dần trên các máy tính hiện hành. Máy tính cá nhân có thể sử dụng một con chuột kết nối với một cổng nối tiếp hoặc cổng USB.
19 Cổng bàn phím: Bàn phím luôn tách biệt với thùng CPU và kết nối với cổng mini-DIN giống với cổng PS2. Thiết bị kết nối bàn phím có thể là cổng tròn 5 pin, lớn hơn ở máy tính cũ hoặc cổng USB ở các hệ thống máy tính mới hơn.
20 Cầu nối mạng: Cầu nối mạng cho phép bạn kết nối máy tính của bạn với một mạng cục bộ (LAN) hoặc cáp băng thông rộng hay môđem DSL với tốc độ truy cập internet nhanh chóng (xem chương 27).
21 Cổng song song: Mặc dù cổng này đang ít được sử dụng nhưng khi dùng đến thì nó thường được dùng nhiều nhất để kết nối với máy in. Tuy nhiên, một số ổ đĩa và các thiết bị ngoại vi khác có thể lắp ngược trên cổng.
22 Cổng nối tiếp: Một số máy tính vẫn còn có 1 hoặc 2 cổng nối tiếp nhưng tất cả đều đã lỗi thời vì đã có cổng USB. Một máy tính có thể có 4 cổng nối tiếp nhưng chỉ có 2 cổng dùng được cùng một lúc vì một cặp sử dụng nguồn tài nguyên phần cứng của cặp còn lại.
23 Cạc kết nối âm thanh: những giắc cắm ngoài trên cạc âm thanh hay bảng mạch chủ cho phép bạn gắn vào một micro, loa hoặc một nguồn nghe ngoài. Ổ đĩa quang học của máy tính (CD hay DVD) được gắn bên trong với cạc âm thanh (xem chương 22).
24 Môđem: kết nối máy tính của bạn với đường dây điện thoại để bạn nhận được các dịch vụ thông tin và internet. Môđem cũng như thiết bị ngoại vi được kết nối với cổng nối tiếp (xem chương 26).



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét